Trang

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Súng phóng lựu GP-25(P1)

Để tăng cường hỏa lực của tiểu đội bộ binh, ngoài hỏa khí đi cùng như súng RPG-7, trung liên RPD, rút kinh nghiệm từ súng phóng lựu M79, quân đội Xô viết được trang bị thêm súng phóng lựu GP-25 kẹp nòng với súng tiểu liên AKM, AK74. Với cỡ nòng 40 mm. Hỏa khí GP-25 đã tăng cường đáng kể sức mạnh của vũ khí bộ binh.
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÚNG PHÓNG LỰU GP-25
Súng phóng lựu GP-25 (Model 3DTech.edu)
Phần 1: Cấu tạo chung súng phóng lựu kẹp nòng GP-25, tháo lắp, bảo quản súng phóng lựu.
Chương 1: Cấu tạo chung.
Tính năng kỹ chiến thuật của súng phóng lựu kẹp nòng GP-25
1. Súng phóng lựu kẹp nòng 40-mm là vũ khí cá nhân, được sử dụng để tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường, trong công sự, sau vật cản địa hình che khuất và trang thiết bị, công trình hạng nhẹ, xe cơ giới hạng nhẹ của địch.  (h. 1).
2. Súng phóng lựu GP 25 được lắp đặt trên súng AK cỡ nòng 7,62-mm и 5,45-mm Kalasnhicova (АКМ, АКМS, АК74 и АКS74). Súng phóng lựu được lặp trên súng Ak theo hình, cho phép có thể sử dụng hỏa lực súng phóng lựu đồng thời với sử dụng hỏa lực của súng tiểu liên AK. (h.2 và 3).
3. Súng phóng lựu sử dụng loại đạn VOG-25 nổ phá mảnh, đạn phóng lựu có bộ phận đầu nổ tức thời và có chế độ tự hủy.
Hỏa lực của súng phóng lựu GP-25 có thể thực hiện theo phương pháp bắn thẳng và bắn cầu vồng, tầm bắn xa nhất trên thước ngắm là 400m, tầm bắn cầu vồng gần nhất của thước ngắm là 200m. Tốc độ bắn 4-5 phát/ phút..

H. 1. Súng phóng lựu kẹp nòng 40-mm.
а — Súng phóng lựu; б —Mặt cắt dọc súng phóng lựu; в — Các bộ phận của súng phóng lựu khi để trong túi đựng súng khi di chuyển. 1 — Nòng súng ; 2– Bộ gá kết nối súng với nòng súng tiểu liên AK; 3 —Vòng goăng đệm; 4 —Cần lấy truyền chuyển động khóa; 5 — Lò xo ; 6 — Chốt khóa an toàn súng; 7 — Cò súng với tay kéo vòng cò; 8 —Chốt đẩy cò súng; 9 — Lò xo cò súng; 10 — Lò xo búa súng; 11 —Chốt đẩy  búa súng; 12 — Búa súng và kim hỏa; 13 — Chốt định vị khóa nòng; 14 —Lẫy khóa chôt súng phóng lựu; 15 — Khóa đạn phóng lựu với nòng súng.

H. 2. Súng phóng lựu GP-25 gắn với súng tiểu liên AKM. 

H. 3. Súng phóng lựu GP-25, gắn với súng AK-74.
Thông số đạn đạo và thông số thiết kế của súng phóng lựu GP-25 ở bảng dưới.

 Mã hiệu:  6G15  (6Г15)
Cỡ nòng súng 40 mm
Chiều dài đường nòng có tiện ren  98 mm
Số rãnh xoắn 12
Khối lượng súng không có đệm báng súng 1,5 kg
Chiều dài súng 323 mm
Tầm bắn được đặt trên thước ngắm:
max 400 m
min ( đường đạn cầu vồng) 200 м
tốc độ bắn 4―5 phát./phút
Cơ số đạn 10 viên.
Loại đạn VOG-25 ВОГ-25
Vo đạn 76 m/s
Cỡ nòng 40 m
Chiều dài viên đạn 0,1067 m
Khối lượng đạn 0,255 kg
Khối lượng thuốc nổ 0,048 kg
Khoảng cách hoạt động của đầu nổ tính từ mặt cắt nòng súng 10 đến 40 m
Thời gian tự hủy đạn sau khi bắn 14 s
Độ tản mát khi bắn ở tầm bắn 400 m Vd không lớn hơn 6,6 m, Vb không lớn hơn 3 m
Giới thiệu chung về cấu tạo và hoạt động của các bộ phận súng phóng lựu GP-25
4. Súng phóng lựu GP-25 là súng được gắn dưới nòng súng tiểu liên, là súng kẹp nòng . Súng có ba bộ phận chính: (рис. 4):
— Nòng súng với bộ phận gá lắp thước ngắm và giá lắp súng với nòng súng tiểu liên AK;
— Khóa nòng. ;
— Bộ phận cò súng và tay cầm.

 H. 4. Súng phóng lựu kẹp nòng 40-mm được tháo rời từng bộ phận:
1 — Nòng súng với bộ gá lắp súng với nòng súng tiểu liên; 2 — Bộ phận cò súng với tay cầm súng; 3 — Khóa nòng; 4 — Chốt khóa súng; 5 — Chốt khóa định vị; 6 — Lẫy hãm.
Trong bộ phụ tùng của súng bao gồm: Đệm vai báng súng với đai da, trục dẫn hướng với lò xo đẩy về và chốt khóa nắp hộp khóa nòng. Túi đựng súng phóng lựu, bao xe đựng đạn, bộ phận thông nòng súng.
5. Kết nối giữa súng phóng lựu với nòng súng tiểu liên bằng bộ gá đặc biệt, gắn súng bằng giá đệm nén. Để chống độ dơ dọc gá súng được giữ bằng chốt định vị. Khóa súng phóng lựu cố định trên súng AK bằng kẹp thép có lò xo, được gắn trên bộ gá.
Bộ phận cò súng của súng phóng lựu là bộ phận tự lên cò, có nghĩa là khi nhấn cò súng, các bộ phận cơ khí cò súng sẽ tự động lên lẫy cò và búa súng tự động đập vào kim hỏa.
Trong bộ phận kim hỏa, cò súng, thiết kế được lắp bộ phận an toàn, bộ phận an toàn cò súng sẽ khóa cò không cho nổ súng, nếu kết nối giữa nòng súng và hộp khóa nòng chưa kín khít, súng phóng lựu chưa gắn chặt với súng tiểu liên AK hoặc đạn chưa được đẩy sát vào buồng đạn. Ngoài ra, súng phóng lựu được lắp bộ phận khóa an toàn, loại trừ súng cướp cò khi sau khi kết gắn súng phóng lựu với súng tiểu liên.
6. Nạp đạn vào súng phóng lựu từ phía nòng súng. Đạn được đưa vào nòng súng từ phía đáy đạn và ấn sâu vào đến tận đáy của nòng súng và khóa nòng. Khi đó bộ phận móc khóa đạn móc vào rãnh đạn và giữ viên đạn trong nòng súng.
7. Khi bóp cò súng, búa súng đập vào kim hỏa, kim hỏa đập vào hạt lửa và gây cháy thuốc phóng. Giai đoạn đầu tiên thuốc phóng cháy trong vỏ đạn. Giai đoạn tiếp theo dưới áp lực của gas thuốc súng cháy, miếng bịt đáy vỏ đạn bị đốt cháy, khí thuốc tràn vào buồng nòng của khóa nòng. Đồng thới với áp lực khí thuốc, đạn vừa xoay vừa dịch chuyển tịnh tiến về phía trước.  Khi đạn bắt đầu chuyển động, các bộ phận của kíp nổ cũng bắt đầu kích hoạt. Kíp nổ kích hoạt hoàn toàn khi đạn đã bay ra khỏi nòng súng từ 10m đến 40m tính từ  mặt cắt của nòng súng. Khi đạn gặp vật cản, kíp nổ sẽ hoạt động, kích nổ lượng nổ mồi, mồi nổ sẽ kích nổ lượng thuốc nổ có trong đầu đạn. Trong trường hợp kíp nổ không hoạt động, từ lực đẩy quán tính khi gặp vật cản, bộ phận tự hủy sẽ khởi động và hủy đạn. Thời gian tự hủy là 14s tính từ khi chạm vật cản. Để giảm sức giật của súng khi bắn, báng súng tiểu liên được lắp bộ phận giảm giật đặc biệt.   
Chương II. Tháo và lắp súng GP-25
8. Tháo lắp bảo quản vũ khí có thể là tháo lắp thông thường bảo quản và tháo lắp chi tiết. Tháo lắp thông thường được thực hiện khi bảo dưỡng, làm sạch vũ khí trong trường hợp sử dụng ở môi trường bẩn, bụi. Tháo lắp chi tiết được thực hiện khi bảo dưỡng chi tiết có thay thế, sửa chữa, làm sạch vũ khí khi sử dụng trong điều kiện quá bẩn, ô nhiễm nặng như ngâm nước bẩn, sử dụng dưới trời mưa to hoặc trong đầm lầy, rừng nhiệt đới. (h. 4) và (h. 5)..
Tháo lắp bảo quản vũ khí được tiến hành trên bàn công tác hoặc trên tấm phản, ván sạch, vải bạt sạch được trải rộng. Các chi tiết khi tháo lắp được sắp xếp theo một trình tự nhất định, quá trình tháo lắp yêu cầu rất cẩn thận, không được để lẫn lộn các chi tiết, không va đập các chi tiết với nhau hoặc sự dụng công cụ cứng rắn tương đương, không tác động mạnh quá mức cần thiết. Trước khi lắp súng, cần lau chùi, xem xét thật kỹ lưỡng và bôi một lớp mỏng mỡ lên các chi tiết chuyển động cần thiết.
9. Trình tự tháo  súng phóng lựu GP-25.

H. 5. Súng phóng lựu 40-mm khi tháo các chi tiết:
1 — Nòng súng và bộ gá súng; 2 — Chốt khóa hãm đạn; 3 — Cần khóa hãm đạn; 4 — Bộ phận định vị chốt hãm; 5 — Thân súng chứa bộ phận cò và tay cầm; 6 — Cò súng và móc kéo; 7 —  Chốt đẩy cò súng; 8 — Lò xo cò súng; 9 —Lò xo đẩy búa súng; 10 — Chốt đẩy búa; 11 —Chốt trục búa súng và kim hỏa ; 12 — Búa súng và kim hỏa; 13 — Khóa nòng và bệ khóa nòng; 14 —Chốt bệ khóa nòng; 15 — Lẫy hãm; 16 — Chốt an toàn khóa nòng; 17 —Đối trọng thước ngắm; 18 — Thước ngắm; 19 — Đệm ống thước ngắm; 20 — Đệm bulong  hãm; 21 — Lò xo thước ngắm; 22 — Lò xo bulong khóa hãm; 23 — Bộ phận khóa  thước ngắm.
1) Tháo thân súng và bộ phận cò sùng ra khỏi nòng súng. (h. 6): Tay trái cầm chắc nòng súng phóng lựu, tay phải cầm thân súng và bộ phận cò súng, ngón tay cái nhấn lên lẫy khóa, xoay nòng sung so với thân súng và bộ phận cò súng một góc 60o về một phía, sau đó tháo nòng súng khỏi bộ phận khóa nòng và bệ khóa nòng.

H. 6. Tháo thân súng và bộ phận cò súng, khóa nòng ra khỏi nòng súng.
2) Tháo lẫy hãm: Cầm thân súng và bộ phận cò súng-khóa nòng vào tay trái, hai ngón tay của tay phải cầm lẫy hãm và kéo ngược lên phía trên. (h. 7).
3) Tháo chốt thân súng và chốt khóa súng: Giữ thân súng bằng tay trái, tay phải tháo chốt định vị từ thân súng - bệ khóa nòng, sau đó tháo chốt hãm, để thuận lợi cho tháo chốt khóa súng, cần đặt cần chốt khóa súng ở vị trí ПР, khi tháo một ngón tay của tay trái đè lên lẫy hãm.  
4) Tháo khóa nòng và bệ khóa nòng ra khỏi thân súng: Tay phải cần thân súng, tay trái cầm bệ khóa nòng và tách rời 2 bộ phận..

H. 7 Tháo lẫy hãm.
10. Trình tự lắm lại súng sau khi tháo rời .
1) Lắp khóa nòng và bệ khóa nòng vào với thân súng và bộ phận cò: Tay trái cầm bệ khóa nòng, tay phải cầm thân súng và bộ phận cò súng và lắp vào với nhau sao cho kim hỏa đi vào lỗ trung tâm của khóa nòng, khi vào khớp rồi kiểm tra khớp lỗ chốt và lỗ chốt khóa súng trên thân súng với khóa nòng.
2) Đưa chốt định vị và chốt hãm vào lỗ: tay trái giữ thân súng và bộ phận cò, tay phải đút chốt định vị và chốt hãm vào lỗ, khi đưa chốt hãm vào lỗ chốt, lấy ngón tay của tay trái đè lên lẫy hãm.
3) Đặt lấy hãm: tay trái giữ súng, tay phải cài lẫy hãm vào đầu của chốt định vị và chốt hãm bệ khóa nòng, đẩy hết cỡ sao cho khuyết hãm đi vào đúng rãnh trên chốt và rãnh chữ thập trên chốt hãm.
4) Lắp nòng súng vào thân súng: tay trái cầm nòng súng, tay phải cầm thân súng với khóa nòng và bệ khóa nòng, đẩy khóa nòng vào sâu trong nòng súng, sao cho các mấu định vị của khóa nòng ăn vào các vấu cắt trên nòng súng, sau đó xoay khóa nòng cho đến khi lẫy hãm trên khóa nòng với với rãnh cắt trên nòng súng.  .
5) Xoay chốt khóa súng vào vị trí  ПР: Quay tay quay của chốt hãm lên vị trí phía phía trên.
11. Trình tự tháo súng chi tiết.
Tháo toàn bộ chi tiết của súng được sử dụng với bộ phụ tùng của súng tiểu liên AK.
1) Tháo súng như tháo để bảo dưỡng.
2) Tháo lẫy khóa hãm súng phóng lựu với súng tiểu liên AK: Tay trái cầm nòng súng cùng với bộ gá súng, tay phải sử dụng tống chốt qua lỗ ở phía bên tay phải bộ gá đẩy chốt của lẫy khóa hãm, sau đó tháo lẫy hãm ra ngoài..
3) Tháo chốt hãm: Giữ nòng súng bằng tay trái, tay phải dùng tô vit quay khóa hãm 90o về bất kỳ hướng nào và lôi chốt hãm ra khỏi lỗ trên nòng súng.
4) Tháo bộ phận cò súng: Đặt thân súng ở tư thé thẳng đứng, tay cầm súng quay xuống dưới, phía bên phải thân súng hướng về phía người tháo, tay phải dùng tô vít qua lỗ cửa sổ tống trục của búa súng ra phía ngoài, từ từ rút tô vít, dùng tay trai lôi búa súng và kim hỏa ra khỏi thân súng ( trong trường hợp vị kẹt, dùng tay phải bóp cò súng, tay trái giữ búa sungs0 sau đó lôi từ thân súng tống chốt và lò xo đẩy, tháo cò súng, lò xo cò súng, chốt đẩy ra khỏi thân súng.

H. 8. Tháo trục lẫy khóa hãm gá súng.
5) Tháo thước ngắm: Đặt nòng súng cùng với thước ngắm lên bàn, một ngón tay đè lên khóa hãm của thước ngắm, tay phải cầm ống đựng phụ tùng đè lên bu lông đệm của đối trọng, quay nó về hướng bất kỳ cho đến khi mấu trên trục của thước ngắm nhô ra trong lỗ của trục thước ngắm. Tháo đệm của đối trọng, tháo đối trọng, đệm hãm, hãm thước ngắm với lò xo, lò xo thước ngắm và tháo thước ngắm.

H. 9. Tháo chốt hãm của bộ phận cơ khí cò súng.

H. 10. Tháo bu lông hãm của thước ngắm.
12. Trình tự lắp súng phóng lựu GP-25.
1) Lắp bộ phận cơ khí cò súng: Đặt lò xo đẩy vào thân súng, lắp cò sùng cùng với cần móc đẩy vào thân súng, đặt chốt đẩy lên cùng với lò xo vào lỗ bên trong thân súng, lắp búa súng và kim hỏa vào thân súng. Để thực hiện nhanh cần dựng súng ở tư thế thẳng đứng, tay cầm súng quay xuống phía dưới, phía trên thân súng hướng về phía người lắp, đặt bộ phận búa súng vào khoang hở của thân súng, dùng tô vít ( có trong bộ phụ tùng súng AK) ấn lên búa súng sao cho lỗ định vị trên búa súng trùng với lỗ trên thân súng, đút chốt định vị sao cho đầu chốt thò sang rãnh cắt phía bên kia thân súng. (h. 11).

H. 11. Đặt chốt định vị của búa súng.
2) Nối bộ phận khóa nòng  với thân súng. Điều 10.
3) Đặt chốt hãm vào lỗ của nòng súng và quay bằng (tô vít ) 90o để 2 cánh chốt hãm nằm trên hai vai của lỗ hãm trên nòng súng.  .
4) Đặt lẫy hãm: Đặt lẫy hãm vào lỗ của bộ gá súng, đặt tống chốt vào lỗ dành cho chốt trục hãm từ phía bên phải và đầu của tống chốt cậy cho lẫy hãm nhấc lên để định vị. Đưa chốt vào từ phía lỗ bên trái, dùng tống chốt đẩy vào bên trong cho đến khi lọt vào lẫy hãm..
5) Lắp thước ngắm. Đặt thước ngắm và lò xo thước ngắm lên trục của thước ngắm,, đặt bu lông hãm thước ngắm và lò xo lên trục của thước ngắm, đặt đệm của của bu lông hãm lên trục của thước ngắm, sau đó là đối trọng và đệm của đối trọng, dùng ống phụ tùng ấn lên đệm của đối trọng và quay nó về bất kỳ phía nào cho đến khi mặt phẳng đệm của đệm đối trọng ăn vào nấc hãm trên trục của thước ngắm..

H. 12. Đặt trục của lẫy hãm.
6) Lắp trục của nòng súng với thân súng và bộ phận cò. Điều 10.
7) Đặt lẫy hãm vào vị trí ПР.
Chương III. Ý nghĩa, cấu tạo chung của các bộ phận trong súng phóng lựu GP 25, đạn và phụ tùng kèm theo.
Model 3D GP-25 - Tech.edu
13. Nòng súng phóng lựu (h. 13) dùng đển định hướng bay của đạn. Trong nòng súng có 2 phần, phần có rãnh xoắn và phần nòng trơn phía bệ khóa nòng. Phần rãnh xoắn có 12 rãnh, được sử dụng để tạo độ xoay của đạn quanh trục của nó khi bay, giữ được độ ổn định trên quỹ đạo đường đạn. Cỡ nòng súng (khoảng cách giữa phần đáy của rãnh xoắn) là 40 mm.
H. 13. Nòng súng với gá súng. (mặt cắt dọc)
1 — Vòng goăng lò xo hãm nòng súng; 2 — Bộ gá súng; 3 — Lò xo hãm định vị; 4 — Bộ phận khóa hãm định vị; 5 — Chốt hãm; 6 — Lẫy hãm định vị; 7 — Rãnh vấu móc hãm; 8 —vấu khóa nòng súng.
Phần nòng trơn của súng phóng lựu được sử dụng để lắp bệ thóa nòng – khóa nòng, kết thúc ở đuôi nòng súng bằng 3 vấu tiện để lắp bệ khóa nòng, phía trên của nòng súng có rãnh để móc vấu khóa nòng súng với bệ khóa nòng.
Trong nòng súng có hai lỗ khoan, lỗ khoan thứ nhất để lắp chốt hãm, giữ đạn trong nòng súng, lỗ khoan thứ hai với rãnh để đặt cần lẫy hãm đạn, kết nối với bộ phận khóa súng, ngăn súng không hoạt động trong trường hợp chưa lắp chắc chắn súng trên nòng súng tiểu liên AK. Trên nòng súng GP-25 có 2 vết phay lõm cùng với rãnh phay để ép kết nối với gá súng.
14. Gá súng: (h. 14) được sủ dụng để kết nối súng phóng lựu với súng tiểu liên AK và lắp thiết bị ngắm.
H. 14. Gá súng:
а —Gá súng phía bên phải; б — Mặt cắt dọc gá súng; 1 — lò xo chốt hãm đạn ; 2 —rãnh cho cần khóa an toàn; 3 — Đĩa số khoảng cách; 4 —trục thước ngắm; 5 — quả ; 6 —Chốt gá súng AK.
Phía trước và phía sau của bộ gá súng có cắt ổ để gá súng phóng lựu lên súng tiểu liên.
Bên trong của gá súng có chốt giữ súng GP-25 theo trục dọc của súng AK, lò xo bộ phận bù gá, lò xo ép bộ gá vào sát với khoang trích khí của súng tiểu liên AK, phía sau của bộ gá, nén chốt hãm đạn và khóa an toàn với lò xo, bộ phận an toàn khóa cò súng, khi súng chưa được kết nối với súng tiểu liên AK.
Phía dưới của gá súng có 2 mấu sắt nhô ra để gắn với nòng súng phóng lựu.
Phía bên trái của gá được gắn trục của thước ngắm, trên trục lắp thân thước ngắm và đối trọng, và thước ngắm. Trên thước ngắm hình tròn có các con số 1,2,3,4,3,2 các số này chỉ tầm bắn trong khoảng cách 100 m. Giữa các số là các vạch khoảng cách, mỗi khoảng tương ứng với 50 m. Tương ứng với 150, 250 và 350m. Những số liệu hàng đầu sử dụng cho đường ngắm thẳng, các số phía sau là số 4, 3 và 2. Khi thực hiện tầm bắn cầu vồng..
Phía bên phải của gá súng có mã hiệu của súng phóng lựu – 6G15. Trên trục của thước ngắm có vấu cam, tác động lên thân của đầu ngắm. Phía bên trái của gá súng trong một rãnh đặc biệt có lắp lẫy của khóa an toàn, khia lắp súng vào súng tiểu liên, lò xo và khóa an toàn bị đẩy sang phía bên phải, đồng thời mở khóa an toàn cho bộ phận cò súng súng có thể hoạt động được. 
15. Thước ngắm (h. 5, - 18) để ngắm và bắn súng phóng lựu. Thước ngắm bao gồm có thân thước ngắm,  đầu ngắm, đối trọng, thanh trượt, chốt đóng mở khe ngắm, lò xo của thân đầu ngắm, đối trọng được lắp trên trục của thước ngắm và khóa thước ngắm. Thân thước ngắm được gắn với trục thước ngắm bằng đệm, đệm cho phép đặt thước ngắm ở các vị trí cần thiết cho đường ngắm, đồng thời là khóa hãm của của đối trọng với mũi tên chỉ vị trí của thước ngắm. Trên miếng trượt được gắn vấu khóa định vị khe ngắm, giữ cho trục vít của khe ngắm cố định không lắc ngang khi mở ở vị trí bắn.

H. 15. Khe ngắm:
а — Vị trí khe ngắm khi cơ động; b — vị trí khe ngắm khi chuẩn bị bắn.
Khe ngắm có hai vị trí cơ động và vị trí chiến đấu. Chốt vít của khe ngắm bảo đảm điều chỉnh khe ngắm khi đưa chuyển súng phóng lựu vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu. (h. 15).
Đối trọng được sử dụng để đưa súng phóng lựu vào tư thế bắn đường đạn cầu vồng vào những mục tiêu nằm khuất sau vật che đỡ hoặc che khuất ( sau vách núi, sau nhà cửa hoặc trong ụ súng. Đối trọng được lắp trên trục của thước ngắm nhờ đệm của đối trọng và đệm của khóa hãm. Lò xo thước ngắm đè chặt đệm đối trọng vào mấu  khóa hãm, từ đó khóa các bộ phận thước ngắm.. Khóa hãm định vị thước ngắm giữ cho thước ngắm không lệch khỏi đường ngắm trong khi bắn. Lò xo của khóa hãm định vị giữ cho thước ngắm ở vị trí phía trên..
Khi đặt cam của thước ngắm, có trên trục của thước ngắm, sẽ thay đổi khung của đầu ngắm vào vị trí cần thiết chống lệch đạn ( cam được sử dụng để chỉnh đường ngắm)..
16. Khóa nòng (h. 4 và 16) là buồng đạn chịu áp lực cao, trong buồng đạn sẽ sảy ra sự cháy thuốc phóng của đạn. Trên khóa nòng có đường gân tiện nổi định hướng và các mấu, được sử dụng để kết nối khóa nòng, bệ khóa nòng với nòng súng, cuối bệ khóa nòng và khóa nóng có 2 cặp tai ( trên và dưới) với lỗ đút chốt và chốt hãm để kết gắn với thân súng và bộ phận cò. Trong khóa nòng- bệ khóa nòng có lỗ khoan trung tâm để cho kim hỏa di chuyển..

H. 16. Кhóa nòng:
а — ảnh chung; b — mặt cắt dọc và ngang; 1 — Khóa nòng; 2 — Lẫy truyền; 3 — Mấu khóa; 4 —lò xo mấu khóa; 5 — Lỗ cho chốt trục định vị và chốt hãm; 6 – Vòng goăng đơn khớp với nòng súng ; 7 — Vòng goăng đôi khớp với nòng súng; 8 — Chốt đẩy đạn ra khỏi khóa nòng; 9 — Vấu kết nối với nòng súng.
Phía trên của khóa nòng có một trục được lắp lẫy truyền khóa cò súng, khi súng phóng lựu không được lắp lên súng tiểu liên AK, vấu đóng định vị và giữ khóa nòng không cho xoay nòng súng. Lò xo mấu khóa, hoạt động cùng với lẫy truyền và vấu định vị.
Từ phía bên trái của lỗ khoan trên khóa nòng đặt chốt đẩy đạn, mục đích sử dụng là đẩy viên đạn ra khỏi nòng súng, sự chuyển động của chốt đẩy đạn được giới hạn bằng một cái vấu đặc biệt. Trên phần vành đai nhô ra của khóa nòng, kết nối với nòng súng, được đặt 2 vòng găng đệm dạng lò xò mảnh, triệt tiêu khe hở giữa nòng súng và khóa nòng, có vòng goăng một và vòng goăng đôi.
17. Thân súng và bộ phận cò súng (h. 17) gắn kết với khóa nòng và tạo thành một bộ phận chính của súng , cùng với nòng súng và bộ phận thước ngắm, gá súng là hai bộ phận khi đựng trong túi bao súng để cơ động. Trong thân súng có chứa bộ phận cò súng. Tay cầm súng dùng để giữ súng khi bắn, và được gắn vào thân súng. Phía trước của súng có hai lỗ xuyên từ bên này sang bên kia, để kết gắn với khóa nòng bằng chốt định vị và chốt khóa an toàn súng.

H. 17. Thân súng và bộ phận cò súng
а — Mặt cắt ngang thân súng và bộ phận cò súng; b — thân súng và tay cầm; 1 — khóa nòng; 2 — Búa súng; 3 — móc kéo; 4 — vòng cò súng; 5 — thân súng và tay cầm; 6 — chốt đẩy; 7 — lò xo cò súng; 8 — lò xo nén búa súng; 9 — chốt đẩy búa súng; 10 — trục của búa súng; 11 — kim hỏa; 12 — tay cầm; 13 — đệm
Khung của thân súng bao bọc toàn bộ phần trên của súng tiểu liên và bảo vệ súng tiểu liên tránh khỏi những hỏng hóc cơ khí khi bắn phóng lựu. Trong khung thân súng có đệm cao su, được sử dụng để chống những va đập cơ khí mạnh, có thể làm hỏng băng đạn khi bắn từ súng phóng lựu.
18. Bộ phận cò súng: Được sử dụng để khai hỏa kích nổ đạn từ súng phóng lựu, bộ phận cò súng bao gồm búa súng với kim hỏa, cò súng với móc kéo, lò xo cò súng, chốt đẩy, lò xo búa súng, chốt đẩy búa súng.  (h. 17, а).
Búa súng với kim hỏa được sử dụng để kích hoạt hạt lửa của đạn. Búa súng được gắn kết với thân súng bằng chốt định vị búa súng và lỗ khoan trên thân súng, trục của búa súng định vị búa nằm đúng ở vị trí khe rãnh trên thân súng. Kim hỏa có thể có thể xoay tương ứng với các vị trí khác nhau của búa súng, do đó đảm bảo cho kim hỏa có thể đi xuyên qua lỗ trung tâm của khóa nòng khi lắp súng. Cò súng đồng thời cũng là bộ phận lên cò kéo căng búa súng. Lò xo cò sùng đưa cò súng trở về vị trí ban đầu sau khi bóp cò, đồng thời tác động lên chốt đẩy lên vấu móc của cò súng, giữ cho vấu móc luôn móc vào bộ phận kéo búa súng.
Phần phía dưới của thân súng trong lỗ khoan đặc biệt có chứa lò xo búa súng và cần đẩy, lò xo búa súng thông qua cần đẩy lên tạo áp lực lên búa súng và kim hỏa. Trên cần đẩy lên dạng pittong có 2 vấu nhô ra, vấu thứ nhất truyền lực của lò xo thông qua búa súng vào kim hỏa, vấu thứ 2 đẩy về búa súng.   .
19. Chốt khóa an toàn súng (h. 1 . 6) Khi đặt tay vặn chốt vào vị trí ПР, phía trên thẳng đứng) sẽ khóa cò súng, giữ an toàn cho súng đã nạp đạn không khai hỏa bất ngờ. Trước khi bắn cần đặt cần khóa súng vào vị trí nằm ngang ОГ giải phóng cò súng.
20. Bộ phận lò xo đẩy về cùng lẫy khóa được lắp vào thay thế cho bộ phận lò xo đẩy về của súng tiểu liên AK, nhằm đảm bảo cho nắp hộp khóa nòng của súng tiểu liên AK không bị bị bật ra khi bắn súng phóng lựu GP-25 dưới tác dụng phản lực của đạn phóng lựu. Trước khi lắp súng phóng lựu lên súng tiểu liên AK cần thay thế lò xo đẩy về của súng AK bằng lò xo lẫy khóa trong túi phụ tùng. Lò xo của súng tiểu liên AK được cất cẩn thận trong kho, lò xo cùng lẫy hãm được sử dụng trong suốt quá trình sử dụng súng phóng lựu kẹp nòng.

H. 18. Đệm báng súng giảm giật
21. Đệm báng súng giảm giật (h. 18) được sử dụng để làm giảm sức giật của súng phóng lựu khi sử dụng súng, đồng thời chống làm hỏng báng súng tiểu liên AK khi tỳ báng súng xuống nền cứng. Đối với súng tiểu liên AKM và AK 74 bãng gỗ, báng súng được lắp vào sâu tận cùng của đệm báng súng giảm giật, còn dây đai thì được luồn qua móc dây đeo súng và thít chặt. Đối với súng tiểu lên báng gập, đệm báng súng giảm giật cũng được lắp vào báng súng đến tận cùng, dây đai được buộc quanh chỗ tỳ phai và thít chặt, đối với AKS 74 cũng cài chặt vào báng súng..
Cấu tạo của đạn súng phóng lựu VOG-25.
22. Đạn phóng lựu VOG-25 theo tính chất kỹ chiến thuật là loại đạn nổ phá mảnh, đạn bao gồm có 3 phần: phần đầu nổ, phần thuốc nổ và phần liều phóng. Trên lưu đạn có mã số ký hiệu.  (h. 19).

H. 19. 40-mm đạn phóng lựu VOG 25 выстрел ВОГ-25:
а — Hình dáng chung và mã hiệu; б — Mặt cắt của đạn; 1 — Bộ phận kích nổ; 2 — Chụp vỏ hình bán cầu; 3 — Miếng đệm; 4 — Lưới bìa cattong; 5 —Thân đạn phóng lựu; 6 — Khối thuốc nổ; 7 —Đáy của đạn phóng lựu; 8 — Thuốc phóng đạn.
Đạn phóng lựu bao gồm có vỏ đạn, đáy đạn, thuốc phóng, lưới bìa cat tông và đệm. (h. 19, б).
Thân phóng lựu có hình trụ tròn, được chế tạo từ thép và được sử dụng để lắp đặt tất cả các bộ phận của đạn phóng lựu, cho phép đạn có thể vừa xoay, vừa tịnh tiến trong nòng súng và bay trong không gian, khi nổ phá ra thành các mảnh vụn có sức sát thương lớn. Hai đầu của vỏ đạn có tiện ren để lắp đầu nổ và đuôi đạn. Cũng có phương án đuôi đạn được nén vào thân vỏ đạn để giảm chi phí.
Đuôi đạn được sử dụng để lắp liều phóng và khóa đạn phóng lựu trong buồng nòng của súng phóng lựu sau khi nạp đạn.
Thuốc nổ khối có hình trụ, khi nổ sẽ phá thân vỏ đạn thành các mảnh vỡ sát thương văng ra mọi phía với tốc độ lớn..

H. 20. Liều phóng đạn phóng lựu
1 — Hạt lửa liều phóng; 2 — Vỏ liều phóng; 3 —Vòng kim loại; 4 — Nắp của liều phóng; 5 — thuốc phóng.
Khối nổ được nén vào vào trong thân của đạn phóng lựu bằng những tấm đệm kim loại.
Lưới được làm từ bìa cat tông, lưới bìa cat tông được dùng để phá vỏ đạn phóng lựu ra làm nhiều mảnh sát thương vụn.
Ốp trượt được đặt trên vỏ của đạn phóng lựu để làm giảm ma sát của đạn khi bay trong không gian.
Liều phóng đạn được sử dụng để phóng đạn ra khỏi nòng súng và viên đạn có vận tốc ban đầu. Liều phóng đạn gồm có vỏ liều phóng, phía trong có thuốc phóng và hạt lửa. Thuốc phóng được bảo vệ bằng vòng đệm và nắp được làm bằng nhôm.
23. Đầu nổ  VMG-K (ВМГ-К) (h. 21) được sử dụng để kích nổ thuốc nổ trong đạn phóng lựu. Đầu nổ được lắp trên đầu đạn, chạm nổ tức thì và theo động năng hoạt động, đầu nổ có khóa an toàn bán tự động, kích hoạt bộ phận gây nổ sau khi đạn được bắn ra từ nòng súng và có bộ phận tự hủy. Đạn hoàn toàn an toàn khi sử dụng, vận chuyển và an toàn khi bắn ra từ 10 – 40 m, an toàn ngay cả khi rơi từ độ cao 3 m lên mọi nền cứng. Đầu nổ bao gồm bộ phận kích hoạt khi va chạm, bộ phận phát lửa, bộ phận khóa an toàn kích hoạt động năng, bộ phận tự hủy..


???H. 21. Đầu nổ VMG-K :
1 — Nắp đậy ; 2 —Lớp đệm; 3, 19, 21, 22, 26, 27, 29, 36 — Vỏ chụp  ; 4 — tấm kim loại mòng ; 5, 39 — mũi nhọn kim hỏa; 6, 25, 31, 35, 38 — Lò xo ; 7 — Giá đỡ ; 8 — Ốc vặn; 9, 15, 32 — Kíp nổ; 10 — Van cửa lậ; 11, 17 — Ống đệm lót; 12 — Thân đầu nổ; 13 — Thành phần thuốc súng; 14 — Miếng đệm ló; 16 — Bu lông; 18 — Thành phần thuốc súng; 20 — Lò xo;23 — Đệ; 24 — Chốt chặn; 28 — Vít; 30 — Lò xo vòng; 33 —Thuốc cháy chậm; 34 —Chốt an toàn; 37 — Kíp nổ; 40 — Thuốc cháy.
Bộ phận kích nổ cơ khí được sử dụng để truyền lực va chạm cơ khí khi chạm vật cản, đảm bảo kích hoạt hoạt động của bộ phận kích nổ. Bộ phận này gồm có nắp đậy 1, Vít  28, Vỏ chụp 3, 2 tấm đệm kim loại 4, đè lên kim hỏa 5, Lò xo nén 6, vỏ chụp 27, được lắp trong giá lắp7.
Bộ phận phát hỏa. đảm bảo kích hoạt bộ phận khóa an toàn khởi động tầm xa, bao gồm kíp nổ 37, Lò xo 38, kim hỏa 39, được lắp trong ống kíp nổ 11. 
Bộ phận khóa chốt an toàn, đảm bảo an toàn của đầu nổ khi tiếp xúc, bao gồm có ống lót 17 được nhồi nén thuốc súng 18, nắp đậy 19, lò xo 20, nắp đậy 2 và 22, miếng đệm 23, chốt 24, lỗ van đóng mở 10 với lò xo 25 ngăn chặn chuyển động của van chớp lật về bên sườn. Trong van chớp lật có kíp nổ dạng kim hỏa 9.
Khóa an toàn trung tâm, giữ cho van chớp lật không di chuyển về bên sườn, bao gồm có chốt định vị 34, lò xo 35 và nắp đậy 36 được lắp trong giá đệm 11..
Bộ phận cơ khí tự hủy: được sử dụng để hủy đạn khi kíp nổ cơ khí khi va chạm vật cản không nổ, bao gồm giá đệm 11 được nhồi thuốc súng theo đường vòng cung 33 và kíp nổ 32, được gắn trong giá đệm
Bộ phận kích nổ ất cả được lắp trong vỏ đầu nổ 12 với miếng đệm lót 14 và được giữ chặt bằng bu lông 8 trên nắp đậy 26 với vòng đệm 2. Đuôi của đầu nổ được lắp kíp nổ 15, vặn chặt vào đầu nổ bằng ốc vit 16.
Đóng gói đạn và mã ký hiệu đạn
24. Đóng gói và chuyên chở đạn phóng lựu VOG-25 trong thùng đạn bằng gỗ. Trong thùng gỗ chứa 3 thùng đạn bằng kim loại đựng đạn, mỗi hộp chứa 28 viên đạn phóng lựu, mỗi quả đạn phóng lựu được đặt trong hộp giấy theo chiều thẳng đứng xắp xếp lần lượt. Độ kín khít và chống va chạm được bảo đảm bằng các hộp giấy. Tổng số đạn có trong hộp gỗ là 84 viên đạn.
Một trong ba hộp sắt có giây đai để tiện lôi hộp đạn ra khỏi thùng gỗ, trong mỗi hộp sắt có miếng điệm an toàn bảo vệ đạn, khi bắn mở hộp bằng lưỡi dao, lưỡi dao mở hộp được quấn trong giấy bảo quản, đặt trong thùng gỗ. Thùng gỗ có nắp đậy đóng mở, được khóa bằng hai khóa, có đóng tay xách để tiện cho khiêng vác cơ động.

H. 22. Hòm và thùng đựng đạn VOG-25 (ВОГ-25)
а — Hộp kim loại đựng đạn; б — Hộp gỗ (Nhìn ngang và nhìn từ trên xuống nắp thùng)
25. Trên vỏ đạn có những dấu hiệu sau: Mã hiệu của đạn phóng lưu 7P17 (7П17), phía dưới có 3 mã số cách nhau bằng dấu gạch ngang, số thứ nhất là mã số nhà máy, số thứ 2 là mã số loạt sản xuất, số thứ 3 là năm sản xuất đạn.
Đầu nổ VMG-K có trên nắp mã hiệu: bao gồm mã hiệu đầu nổ - mã số nhà sản xuất, loạt sản xuất và năm sản xuất. ВМГ-К.
Trên nắp hộp kim loại có: mã hiệu súng phóng lựu (h. 22): (6Г15), mã hiệu đạn phóng lựu, 7P17(7П17), số sản xuất của nhà máy, loạt sản xuất của đạn và năm sản xuất, số lượng đạn.
Bên cạnh phía trước của thùng gỗ, phía tay trái có ghi: mã hiệu của đạn phóng lựu, mã số của nhà máy, loạt sản xuất, năm sản xuất, số lượng đạn. Khối lượng thùng đạn (h. 22)Phía bên phải ghi loại súng sử dụng :
Phụ tùng của súng.
27. Để lau chùi bảo dướng súng, làm sạch và bôi dầu mỡ cho súng sử dụng hộp phụ tùng của súng tiểu liên AK và chổi lau chùi nòng súng. Chổi lau chùi nòng súng có thể được vặn vào thông nòng của súng tiểu liên AKM hoặc AK 74. Đối với mỗi cơ số biên chế 12 khẩu súng GP-25 được biên chế hộp hộp phụ tùng ZIP-G (ЗИП-Г) (h. 23.).

H. 23. Chổi lông lắp trên thông nòng súng AK.
Đối với mỗi xạ thủ GP-25 có hai bao: bao đựng súng GP-25 và bao đựng đạn phóng lựu, bao đựng đạn phóng lựu đựng 10 viên đạn, có những túi nhỏ riêng biệt để đựng đạn, có nắp đậy và khuy cài quai đeo quanh cổ và đệm sau gáy để thuận lợi cho mang đạn khi cơ động. Bao đựng súng được đeo bên cạnh sườn,phần sau của bao lưỡi lê súng tiểu liên AK.  (h. 24, а) (h. 24, б).

H. 24. Túi đựng súng phóng lựu và đạn phóng lựu.

Biên dịch: Trịnh Thái Bằng
Theo : quocphonganninh.edu.vn

Tìm hiểu về Áo chống đạn


Áo chống đạn (ACĐ). ACĐ là một loại áo giáp mà khi mặc vào, nó sẽ giúp cho ta không bị tổn thương bởi những viên đạn bắn ra từ các khẩu súng. Nói cách khác, ta có thể trở nên bất tử (hoặc gần như bất tử) trước những phát súng đó. Tuy nhiên, vỏ quýt dày có móng tay nhọn, áo giáp xịn có đầu đạn to. ACĐ chỉ có khả năng chịu được một số loại vũ khí nhất định, nếu đối phương dùng súng cối hay đại bác thì tốt nhất bạn nên chạy thật nhanh là vừa.

1. GIỚI THIỆU:

Từ thời xa xưa, các chiến binh cổ đại đã biết dùng nhiều loại vật liệu khác nhau để làm áo giáp cho mình. Chúng có thể làm từ da thú (người cổ đại) hoặc các tấm sắt thép mà binh lính Trung cổ sử dụng. Từ thế kỷ thứ 15, con người đã chế tạo ra những loại áo giáp phức tạp mà khi mặc chúng, họ sẽ trở nên gần như bất tử trước dao kiếm, súng đạn. Sang thế kỷ 16, với sự phát triển của đại bác và các loại súng hiện đại, thế cuộc dần bị thay đổi do giờ đây súng ống có thể bắn ra những viên đạn bay với tốc độ cực kỳ nhanh, có khả năng xuyên thủng cả những tấm thép mỏng. Mặc dù người ta có thể làm cho áo giáp sắt dày hơn nhưng bù lại, người mặc sẽ trở nên nặng nề, cồng kềnh và chậm chạp. Sau đó, mãi cho đến thập niên 60 của thế kỷ trước, các kỹ sư mới có thể tạo ra những chiếc ACĐ đáng tin cậy nhưng lại có độ mỏng cao và mặc vào thấy thoải mái như quần áo thông thường. Loại ACĐ này là áo giáp mềm, không dùng sắt thép mà được dệt từ các sợi vật liệu siêu chắc.

Nhìn chung, có 2 loại ACĐ:

Soft Body Armor:
Áo giáp mềm, được dệt từ các sợi vật liệu siêu chắc. Nặng khoảng vài kg

Hard Body Armor: Áo giáp cứng, độn các tấm sắt thép hoặc gốm. Có thể nặng hơn 10 kg.

Ngoài ra còn có một loại ACĐ tiên tiến khác vừa được phát triển thành công gần đây, đó là ACĐ bằng chất lỏng (Liquid Body Armor) sử dụng 1 trong 2 loại chất lỏng đặc biệt để tăng cường độ cứng cho sợi KEVLAR.



Áo giáp cứng hoạt động tương tự như áo giáp sắt của binh lính Trung cổ thời xưa, dùng độ cứng của các tấm sắt thép để làm lệch viên đạn hoặc dao kiếm. Khi viên đạn chạm vào áo giáp và tác động một lực cực lớn lên đó, áo giáp cũng sẽ tác động trở lại một lực tương tự lên viên đạn làm cho nó bị biến dạng, vì vậy áo sẽ không bị thủng. Tuy áo giáp cứng có độ an toàn cao hơn so với áo giáp mềm dệt từ sợi, nhưng người mặc nó phải chịu một sức nặng lớn hơn rất nhiều. Cảnh sát và bộ đội chỉ dùng loại giáp cứng trong trường hợp bị tấn công dày đặc, còn trong các nhiệm vụ thường ngày thì họ chỉ mặc áo giáp mềm mà thôi, vừa nhẹ nhàng lại vừa êm ái như áo vải thông thường.

ÁO GIÁP BẰNG GỐM ?

Có lẽ bạn sẽ thắc mắc tại sao người ta lại dùng gốm để chế tạo ACĐ. Gốm mà ta thường thấy nó rất giòn và dễ vỡ. Nhưng thật ra, gốm có rất nhiều loại khác nhau. Loại gốm dùng để sản xuất ACĐ được gọi là Oxít Nhôm (Alumin) có công thức hóa học là Al2O3 với độ cứng cao. Đá Sapphire cũng có cấu tạo từ hợp chất này. Ngoài ra người ta còn dùng cả nhựa PolyEtylen để làm vật liệu chế tạo ACĐ, nó dày hơn gốm, không chắc như gốm nhưng bù lại nó nhẹ hơn.

2. ÁO GIÁP MỀM - ÁO GIÁP CỨNG:

► ÁO GIÁP MỀM:
Đã là áo giáp thì tại sao lại mềm? Mềm thì làm sao chống được súng đạn? Để hiểu nguyên tắc làm việc của áo giáp mềm, bạn chỉ cần nhớ bên trong áo, các sợi vật liệu được dệt thành một tấm lưới siêu chắc.

Cho dễ hình dung, bạn hãy tưởng tượng đến tấm lưới của khung thành thủ môn trong bóng đá. Lưới khung thành được làm từ các sợi dây dài, kết đan xen lẫn nhau và buộc chặt vào khung. Khi bạn sút tung lưới, trái bóng sẽ tiến về khung thành mang theo một nguồn năng lượng dưới dạng động năng. Khi bóng chạm lưới, nó sẽ tác dụng lực lên một điểm trên tấm lưới và đẩy lưới dội ngược về phía sau khung thành. Các sợi dây của lưới cũng sẽ bị tác động kéo ra phía sau theo, làm tiêu tán năng lượng của trái bóng từ một điểm thành ra lan tỏa khắp lưới, giúp nó dừng lại.


Carbon Nanotube

Chính kết cấu đan xen của tấm lưới mới có thể làm tiêu tán năng lượng của trái bóng. Khi trái bóng chạm vào một sợi dây của lưới và đẩy nó về phía sau, do được kết đan xen nên sợi dây đó cũng kéo theo các sợi dây ngang, dọc khác ra sau, cứ thế sợi này kéo theo sợi khác làm cho cả tấm lưới bị kéo về phía sau khung thành và nhờ đó mà nó hấp thu được hết toàn bộ năng lượng chuyển động của trái bóng.

Áo giáp mềm cũng vậy, bên trong áo cũng có một tấm lưới siêu chắc giống như tấm lưới khung thành. Chỉ có điều nó được đan dày đặc hơn và dùng loại vật liệu cứng cáp hơn để có thể chống chọi được với viên đạn, vốn bay nhanh hơn rất nhiều so với trái bóng. Vật liệu làm ACĐ thông dụng nhất đó là sợi KEVLAR của hãng DuPont. KEVLAR là một loại sợi nhẹ như sợi vải truyền thống nhưng nó khỏe hơn gấp 5 lần một mảnh thép có cùng khối lượng. Và khi được đan thành một tấm dưới dày đặc thì nó sẽ có khả năng hấp thu một lượng lớn năng lượng từ đầu đạn bay tới. Không những dùng để chặn đứng đầu đạn, ACĐ còn phải bảo vệ người mặc khỏi những tổn thương do đầu đạn gây ra, tuy nó không chạm vào da thịt người mặc nhưng do tốc độ bay quá nhanh và mạnh nên đầu đạn vẫn có thể khiến ta bị tổn thương nghiêm trọng. Nhưng nếu có mặc ACĐ thì chuyện này sẽ không xảy ra.



VẬT LIỆU LÀM ÁO CHỐNG ĐẠN:

Thông dụng nhất là sợi KEVLAR nhưng bên cạnh đó còn có nhiều loại vật liệu khác đang được phát triển, ví dụ như sợi Vectran, khỏe gấp đôi KEVLAR và cứng hơn sắt thép từ 5-10 lần. Ngoài ra người ta còn dùng cả sợi tơ nhện để làm ra vật liệu có tên là Biosteel. Một sợi Biosteel có thể khỏe gấp 20 lần so với một sợi thép. Ngay cả lông gà cũng được tận dụng làm vật liệu cho ACĐ. Các nhà nghiên cứu của trường Đại học Nebraska-Lincoln (Mỹ) đã xe các cọng lông gà lại thành một loại vải rất cứng mà lại nhẹ, có khả năng chống được đạn do bên trong lông gà có cấu trúc hình tổ ong.

Ngoài ra còn có một loại vật liệu khác cũng khá tiềm năng đó là Carbon Nanotube, được cho là khỏe hơn cả tơ nhện nói trên. Tuy nhiên loại vật liệu này vẫn còn hiếm và vải làm từ nó còn hiếm hơn. Giá của nó cũng khá "chát": 500$ cho mỗi gram.
  ÁO GIÁP CỨNG:



Áo giáp cứng ngoài các lớp sợi như áo giáp mềm thì phía trước nó còn có một tấm vật liệu cứng làm bằng kim loại hoặc gốm. Đầu đạn trước khi chạm vào tấm lưới sợi thì nó phải chạm vào tấm gốm/thép này trước. Chính tấm gốm này sẽ làm giảm đi một phần tốc độ của đầu đạn, dùng độ cứng của mình để phá vỡ hình dáng khí động học của nó, làm cho đầu đạn bị biến dạng và giảm sức sát thương.


Hình minh họa bên dưới cho thấy khi đầu đạn chạm vào lớp gốm, nó sẽ bị phá hủy trước khi chạm vào lớp sợi.

fffff





3. ÁO GIÁP CHẤT LỎNG (ÁO CHỐNG ĐẠN BẰNG CHẤT LỎNG):

Áo giáp chất lỏng là một trong những bước phát triển mới nhất trong ngành chế tạo ACĐ. Bên cạnh việc tận dụng các loại vật liệu có độ cứng cao thì người ta còn dùng tới một số chất lỏng đặc biệt để tăng thêm khả năng bảo vệ của áo. Ở đây, không phải người ta bơm nước vào trong ACĐ mà là nhúng sợi KEVLAR qua 1 trong 2 chất lỏng đặc biệt để tăng cường độ cứng cho nó. Thông thường, một chiếc ACĐ sẽ có từ 20-40 lớp sợi KEVLAR, làm cho áo trở nên khá nặng nề (khoảng 4,5 kg). Tuy nhiên nếu sử dụng công nghệ chất lỏng này thì chỉ cần 4 lớp sợi KEVLAR thôi cũng đủ sức mạnh tương đương với 14 lớp KEVLAR khi chưa dùng chất lỏng, do đó giúp làm giảm sức nặng của áo đi khá nhiều.

Ở đây có 2 loại chất lỏng, tương ứng với 2 loại ACĐ mới, đó là:

Shear-Thickening Fluid (STF):
Chất lỏng có khả năng đông cứng đột ngột mỗi khi có va chạm mạnh từ bên ngoài.

Magnetorheological Fluid (MR): Chất lỏng có khả năng tạo thành lớp tường bảo vệ bằng sắt mỗi khi có từ trường xuất hiện.


► SHEAR-THICKENING FLUID (STF):

STF lúc bình thường sẽ tồn tại dưới dạng chất lỏng, nhưng khi có một vật thể nào đó chạm vào nó với tốc độ nhanh và mạnh (ví dụ như đầu đạn, mũi dao) thì ngay lập tức, nó sẽ đông cứng lại. Tốc độ đông cứng của STF diễn ra khá nhanh, chỉ trong vòng vài mili-giây (1 giây = 1.000 mili-giây) và sau khi không còn lực tác dụng lên nữa thì nó sẽ trở về trạng thái lỏng ban đầu. Để minh họa, bạn có thể trộn bột bắp với nước giống như trong video dưới đây. Khi từ từ nhúng tay vào hỗn hợp này thì bạn sẽ cảm thấy nó mềm và "lỏng". Còn khi bạn đập mạnh vào nó thì nó sẽ cứng như bê tông.
Quá trình này có thể được giải thích như sau: Chất lỏng STF thật ra là một chất keo, chứa các hạt cực kỳ nhỏ lơ lửng bên trong nó. Bình thường, các hạt này đẩy lẫn nhau với một lực khá yếu để không bị dính vào nhau cũng như không bị đẩy xuống dưới đáy. Nhưng khi có lực tác động mạnh từ bên ngoài, lực này sẽ áp đảo lực đẩy của mỗi hạt khiến cho chúng phải bị dính vào nhau, tạo thành nhiều khối đông đặc gọi là HydroCluster. Khi không còn lực tác động nữa thì các hạt lại tiếp tục đẩy lẫn nhau và khối HydroCluster sẽ bị tan rã.

Hình trên khi chưa có lực tác động, các hạt đẩy hỗn độn lẫn nhau. Hình dưới là khi có lực tác động vào, các hạt bám dính lấy nhau tạo thành bức màn bảo vệ.

Chất lỏng dùng trong ACĐ chính là Glycol PolyEtylen, còn các hạt bên trong chúng là hạt Silic Oxít (Silica). Silic Oxít có rất nhiều trong cát, thạch anh. Còn Glycol PolyEtylen là một loại polyme được dùng nhiều trong thuốc nhuận tràng và dầu bôi trơn. Do các hạt Silic Oxít này rất nhỏ, đường kính chỉ có vài Nanomét (1 mm = 1.000.000 nm) nên một số tài liệu còn gọi đây là sản phẩm của công nghệ Nano.

Cách chế tạo ACĐ chất lỏng dùng STF:

Đầu tiên, người ta sẽ pha loãng STF trong Etanol, sau đó nhúng sợi KEVLAR qua STF bị pha loãng này rồi đặt nó vào lò sấy để làm bốc hơi chất Etanol. Kết quả là ta có được sợi KEVLAR được tăng cường STF do các hạt Silic Oxít đã thấm vào các sợi vải, tạo thành một lớp màng bảo vệ cho nó. Khi có lực tác động từ bên ngoài (như đầu đạn, dao kiếm) thì lớp màng này sẽ đột ngột đông cứng lại để làm tiêu hao sức mạnh của vật thể đó. Sau khi chặn xong, lớp áo này sẽ mềm trở lại như bình thường.

Qua kiểm tra trong phòng thí nghiệm cho thấy, sợi KEVLAR được tăng cường STF cũng mềm dẻo và linh hoạt như sợi KEVLAR thông thường, chỉ khác ở chỗ nó cứng hơn rất nhiều. Do đó người ta không cần làm quá nhiều lớp KEVLAR trong ACĐ nữa. Vì sau khi được nhúng qua STF thì chỉ cần 4 lớp KEVLAR này thôi cũng đủ sức mạnh tương đương với 14 lớp KEVLAR thông thường. Thêm một lợi điểm nữa đó là lớp KEVLAR có STF không bị viên đạn làm lõm đi nhiều như lớp KEVLAR thường, nên người mặc sẽ ít cảm thấy đau khi bị trúng đạn hơn.


Một chiếc áo chống đạn KEVLAR có STF sau khi bị trúng đạn
 
4. KHẢ NĂNG NGĂN CHẶN SÁT THƯƠNG - PHÂN CẤP ÁO CHỐNG ĐẠN:

Ở phần trên, chúng ta đã hình dung ACĐ hoạt động giống như cách mà tấm lưới khung thành chặn được quả bóng. Khi sút bóng tung lưới, tấm lưới sẽ bị đẩy ra phía sau một khoảng khá xa rồi từ từ mới chặn nó lại được, nhưng đối với ACĐ thì không làm như vậy. Bởi vì nếu để đầu đạn bay quá sâu vào trong da thịt của người mặc thì nó có thể gây ra những tổn thương trầm trọng cho họ. Cho nên, thay vì để đầu đạn "đâm" một lực nhọn vào 1 điểm trên cơ thể người mặc thì ACĐ sẽ phân tán lực đó tỏa đều ra xung quanh, nhờ đó mà sức tàn phá của đầu đạn cũng bị phân tán và yếu đi rất nhiều. Để làm được điều này, các sợi vật liệu của áo cần phải được đan thật chặt vào nhau và mỗi sợi trước khi đan còn được xoắn lại để tăng độ cứng chắc. Bên cạnh đó, người ta còn phủ lên chúng một loại nhựa (Resin) và cho kẹp giữa 2 lớp nhựa khác nữa. Nhờ đó, người mặc ACĐ vẫn sẽ cảm nhận được lực của đầu viên đạn chạm vào người, nhưng sức ép của đầu đạn sẽ lan tỏa ra khắp phần thân trên với một lực yếu đi rất nhiều, nên họ sẽ không bị chấn thương nặng.


ACĐ cần phải được làm từ nhiều lớp để tăng khả năng chặn đứng đầu đạn. Nếu chỉ có một lớp vật liệu duy nhất thì khả năng đầu đạn đâm sâu vào cơ thể là rất cao. Vì thế khi có nhiều lớp bảo vệ, mỗi lớp chặn một ít, đầu đạn chạm vào lớp đầu tiên, bị ngăn đi một ít, chạm vào lớp thứ hai, lại bị ngăn đi nữa, cứ thế dần dần đầu đạn sẽ bị hấp thu hết toàn bộ năng lượng và dừng lại hoàn toàn để người mặc không bị tổn thương. Thông thường một chiếc ACĐ sẽ có từ 20-40 lớp KEVLAR. Ngoài ra, ACĐ còn khiến cho đầu đạn phải bị biến dạng sau khi nó bắn vào áo. Đầu viên đạn thường có hình dáng thon và nhọn để tăng lực đâm xuyên, nhưng khi có ACĐ, lực tác dụng ngược lại của áo sẽ làm cho đầu đạn bị bóp méo và xòe ra xung quanh, phần nào làm giảm đi tốc độ và khả năng đâm xuyên của chúng. Nó giống như khi bạn ném một cục đất sét vào tường thì đất sét sẽ bị bẹp dí đi vậy.

Khi đầu đạn chạm vào ACĐ, áo sẽ làm phân tán lực tác động của đầu đạn ra xung quanh để giảm sát thương, đồng thời làm biến dạng đầu đạn.

Và như mình đã nói ở đầu bài, vó quýt dày có móng tay nhọn, áo giáp xịn có đầu đạn to. ACĐ chỉ có thể giúp bạn "bất tử" ở một số giới hạn nhất định, quá giới hạn này thì ACĐ không còn tác dụng nữa. Vì khoa học quân sự không ngừng phát triển, ngày càng có nhiều loại súng có độ công phá lớn, tốc độ bắn nhanh và mạnh nên người ta luôn phải nghiên cứu chế tạo ra những loại ACĐ mới có sức bảo vệ cao hơn. Rồi sau đó lại có súng mạnh hơn khắc chế nó, mọi việc cứ thế mà tiếp diễn.


Mặt trước (hình trái) và sau của một tấm thép dùng trong ACĐđã bị bắn vài phát súng trường. Tất cả các đầu đạn đều bị bóp méo. Tuy làm cho tấm thép bị lõm xuống nhưng không có phát súng nào khiến cho người mặc bị thương cả.



► PHÂN CẤP ÁO CHỐNG ĐẠN:

Hiện nay, xét về cấp độ bảo vệ, ACĐ được phân thành 6 mức là: Loại I, IIA, II, IIIA, III và loại IV, với khả năng chống đạn tăng dần từ I đến IV, loại I yếu nhất và loại IV là mạnh nhất. Bảng phân hạng này được sử dụng ở Mỹ và do Viện Tư pháp Quốc gia, thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cấp giấy chứng nhận. Tùy vào loại vật liệu và cấu trúc thiết kế mà ACĐ sẽ được phân thành 1 trong 6 loại trên. Mỗi loại chỉ có thể chống chọi được một số loại vũ khí nhất định. Ví dụ ACĐ loại I chỉ có thể chống được các đầu đạn có tốc độ bay tầm 330 m/s. Nếu mặc áo loại này mà bạn đưa ngực ra cho AK-47 nã (710 m/s) thì đừng hỏi tại sao bạn chết. Các loại ACĐ hạng cao khác thậm chí còn chống được cả súng máy và Shotgun. Trong số 6 loại trên, từ loại I cho đến IIIA là ACĐ mềm, có thể mặc dấu bên trong lớp áo sơ mi hay quần áo thông thường. Còn loại III và IV là ACĐ cứng.


Quá trình đầu đạn bị biến dạng khi tác động vào Áo chống đạn

Càng có nhiều lớp bảo vệ thì ACĐ càng có độ an toàn cao. Một số loại ACĐ thậm chí còn cho phép bạn gắn thêm một hoặc nhiều lớp bảo vệ nữa để tăng thêm tính an toàn. Trong đó, có một cách làm khá phổ biến đó là gắn thêm lớp bảo vệ ở túi áo trên. Khi cần, bạn có thể cho thêm một miếng kim loại hoặc gốm vào trong túi áo này để tăng độ dày của vùng nhạy cảm, khi không cần nữa thì có thể rút nó ra dễ dàng.

Để kiểm tra mức độ hiệu quả của ACĐ, không có biện pháp nào hữu hiệu hơn là cầm súng rồi bắn trực tiếp vào nó. Các nhà nghiên cứu đã dùng mọi loại đạn, bắn từ mọi góc độ khác nhau từ nhiều khoảng cách để đo khả năng bảo vệ của từng loại áo đó. Một chiếc ACĐ được gọi là làm việc hiệu quả khi nó có thể chống được đầu đạn từ một loại vũ khí nhất định, ở một khoảng cách nhất định mà không gây ra tổn thương nghiêm trọng cho người mặc. Để thử nghiệm, người ta đặt một khối đất sét đằng sau lớp ACĐ để giả lập da thịt của con người. Nếu sau khi bắn mà khối đất sét này bị biến dạng nhiều hơn một mức độ nào đó thì coi như ACĐ này không hiệu quả đối với loại súng đó.
5. NÊN CHỌN LOẠI ÁO CHỐNG ĐẠN NÀO?

Khi đã mặc ACĐ rồi thì ai cũng muốn áo của mình chống đạn tốt nhất. Nhưng tùy vào từng tình huống sử dụng mà bạn nên chọn cho mình một chiếc áo có mức bảo vệ phù hợp. Nếu bạn là một cảnh sát đi tuần tra trên phố thì không có lý do gì phải mặc một bộ áo giáp cứng nặng trịch như chiến binh thời Trung cổ. Áo giáp cứng tuy có độ an toàn cao nhưng nó cũng gây ra nhiều phiền phức:

Người mặc sẽ không cảm thấy thoải mái và giảm đi tính dẻo dai của mình, làm cản trở công việc của một cảnh sát như tuần tra, đuổi bắt cướp...
Khi mặc một chiếc ACĐ cồng kềnh, kẻ tấn công có thể nhận ra rằng bạn đang mặc ACĐ nên chúng sẽ chỉ nhắm vào những chỗ không được ACĐ bảo vệ, ví dụ như đầu. Không ai muốn người khác chĩa súng nhắm thẳng vào đầu của mình cả vì xác suất "xuyên táo" sẽ tăng cao.
ACĐ càng nặng thì sự khó chịu càng tăng theo, khiến cho người mặc không còn muốn đeo chúng nữa. Vì vậy mà các sở cảnh sát luôn rất cẩn thận trong việc chọn lựa ACĐ cho nhân viên của mình, để khuyến khích họ mặc trong lúc làm việc.

VN ta cũng đã tự sản xuất thành công áo giáp chống đạn vào năm 2003. Đây là sản phẩm của Trung tâm Công nghệ vật liệu, Viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ (Bộ Khoa học Công nghệ). Áo giáp có thể chống các loại đạn bộ binh thông dụng như CKC, K54, AK... Được chế tạo chủ yếu từ các sợi Kevlar 129, Spectra 1000, Boron... ACĐ của Việt Nam có trọng lượng vừa phải (2,2-5 kg) phù hợp với thể trọng người VN, giá thành thấp hơn sản phẩm nhập mà vẫn có tính năng bảo vệ tương đương. Ví dụ như loại ACĐ của binh lính Mỹ sử dụng trong chiến tranh Iraq trị giá 1.000-1.500 USD/chiếc thì ACĐ của VN qua kiểm nghiệm cũng có chất lượng tương đương nhưng giá thành chỉ bằng 2/3.



6. HÌNH ẢNH:

Một buổi thử nghiệm Áo chống đạn diễn ra vào ngày 13/09/1923 tại Washington, Mỹ. Trong ảnh là cảnh ngài Phó cảnh sát trưởng Charles W. Smith của hạt Frederick (Maryland) cầm khẩu súng lục cỡ nòng .38 bắn vào ngực ông W.H. Murphy của công ty Protective Garment (New York) tại một đồn cảnh sát. Ông Murphy được mặc áo chống đạn và người bắn đứng cách ông chưa đầy 3 mét. Viên đạn sau đó được tặng lại cho ngài Phó cảnh sát trưởng để làm vật kỷ niệm (gunpundit.com).












Các bộ phận của một Áo chống đạn



Một chiếc Áo chống đạn



Áo giáp của Bộ binh-Thiết giáp Đức trong Chiến thanh thế giới lần thứ 1, năm 1918
                                                                                                                                                               Tư liệu sưu tầm 
 

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

RPK & RPK-74

 RPK được thiết kế như một súng đa năng của tiểu đội, bao gồm ba chức năng là súng trường tầm xa, súng trường tự động và súng máy tiểu đội (trung liên, LMG). Nhưng, khi thay thế súng máy tiểu đội (LMG, Trung Liên) RPD bằng RPK có nhiều dư luận phản đối dó chức năng súng máy của RPK còn hạn chế. Như các súng máy nhẹ khác, súng RPK nhanh nóng nòng.

 Súng máy Kalashnikov RPK với HTĐ 75 viên tròn (đĩa) .

RPK với HTĐ 40 viên.

 
                              RPK báng gấp.

                      Mẫu RPKM mới.

Nhược diểm trên chỉ được khắc phục khi sử dụng thế hệ đạn mới, các AK-74 và RPK-74 dùng đạn 5,45x39mm. Đạn này cho sơ tốc cao hơn, súng gọn hơn. Đạn có sức sát thương nhỏ hơn đạn cũ, nhưng sức sát thương được cải thiện nhờ cấu tạo đầu đạn tiên tiến và độ chính xác cao.
Nhược điểm vẫn còn tồn tại là băng hộp, không cho phép lắp liên tục 200-300 viên hay hơn nữa khi sử dụng như một súng máy, nhất là khi làm hỏa lực yểm trợ-bắn áp chế cho tiểu đội xung phong.
Súng dùng máy AK, cơ cấu trích khí xung.
Bán kính ngắm 555mm, sơ tốc cao... quá tốt cho một súng trường tầm xa.
RPK-74M có khe lắp kính ngắm, các bộ phận được thay bằng nhựa đen.

Cỡ đạn 5,45x39 mm
khối lượng 4,7 kg rỗng
dài cả súng 1060 mm
chiều dài nòng 590 mm, bằng RPK 7,62mm, dài hơn AK (cả AK-47 và 74 đều có chiều dài 415mm)
Băng đĩa 75 viên, băng dài 45 viên, chung băng với AK
Tốc độ bắn 600 phát/phút
Sơ tốc: 960 m/s, sơ với RPK-7,62mm là 745m/s, AK 7,62mm thường là  710 m/s (2,329 ft/s), AK-74 là 900 m/s (~2952 f/s). Sơ tốc này là ưu thế nổi trội của đạn mới.
Có mẫu 5,56x45 RPK-201 dùng đạn NATO.

TQ đâm sau lưng LX khi chưa chuyển giao xong công nghệ AKM. Vì vậy, TQ mãi đến thời đánh nhau với Việt Nam những năm 1980 chưa có khái niệm súng máy tiểu đội. TQ lúc đó vẫn sản xuất và trang bị súng lái giữa đại liên và trung liên cho tiểu và trung đội dùng chung, súng đại liên cho đại đội. Type 67 machine gun, Type 88 general purpose machine gun (Chinese designation QJY 88)  là những súng như vậy. Sau khi giao chiến với Việt Nam, TQ thảm bại, Đặng Tiểu Bình nhân cơ hội đó thực hiện 4 hiện đại hóa, trong đó có chương trình type 81, gồm AK và súng giống như RPK. Nhưng Type 81 không tồn tại lâu, sau đó TQ sử dụng thiết kế lai căng FAMAS khóa nòng TQ: Type 95 light machine gun (Chinese designation QBB-97) . Type 81 và Type 95 là những súng máy tiểu đội của TQ.


Kiểu cơ bản 1974, băng đạn và phụ kiện bằng nhựa đỏ.

 
Kiểu nay vẫn đang sản xuất, băng đạn và báng, ốp lót nhựa đen.





Kiểu RPK-74M, báng xếp và ray bên sườn để lắp kính ngắm.





                                              Xếp báng.

                            Trung liên K-81 của TQ